2. Đức Vương Đức Phi Khai Kinh Sớ
Nguyên văn:
德王德妃開經疏
伏以
淨甁法水、一滴霑而日月光華、玉葉性空、半點洒而山河秀麗、式遵古禮、壇啟齋儀。疏爲
大南國嗣統皇帝阮福...法名澄意、字如惠、建壇于純毅堅太王祠奉
佛修齋諷經資福酬恩事、維日香爇牛頭、燈燃鶴焰、仰干
大覺之尊、俯鑒微誠之懇。恭惟
王妃二位徽號、乾元合德、坤厚成能、基美化于關雎、開祥源于長發、正篤天家之佑、方瞻鳳葆之和、雲騈遞返于仙郷、玉曆卅餘于花歲、顧欲追酬昊德、應須仰達鴻恩。兹者夏天佳節、孟月良晨、槐蔭盈庭、荷香滿沼、莊嚴海會、壇開三晝之連霄、瑞靄雲烟、香滿十方之世界、諷誦...(如前)
伏願、能仁普濟、大覺垂慈、俾金靈速證菩提安樂國、位登極果、扶寶祚永安磐石妙嚴邦、慶衍鴻基、尤願神民、均霑勝福、寔賴
諸佛扶持之大力也。謹疏。
Phiên âm:
ĐỨC VƯƠNG ĐỨC PHI KHAI KINH SỚ
Phục dĩ:
Tịnh bình1 pháp thủy,2 nhất trích triêm nhi nhật nguyệt quang hoa; ngọc diệp tánh không, bán điểm sái nhi sơn hà tú lệ; thức tuân cổ lễ, đàn khải trai nghi.
Sớ vị: Đại Nam Quốc Từ Thống Hoàng Đế Nguyễn Phúc …, pháp danh Trừng Ý, tự Như Huệ, kiến đàn vu Thuần Nghị Kiên Thái Vương Từ phụng Phật tu trai phúng kinh tư phước thù ân sự; duy nhật hương nhiệt Ngưu Đầu,3 đăng nhiên hạc diễm;4 ngưỡng can Đại Giác5 chi tôn, phủ giám vi thành chi khẩn.
Cung duy: Vương Phi nhị vị huy hiệu, càn nguyên6 hợp đức, khôn hậu7 thành năng; cơ mỹ hóa8 vu quan thư,9 khai tường nguyên vu trường phát; chánh đốc thiên gia chi hựu, phương chiêm phụng bảo10 chi hòa; vân biền đệ phản vu tiên hương, ngọc lịch11 tạp dư vu hoa tuế; cố dục truy thù hạo đức, ưng tu ngưỡng đạt hồng ân. Tư giả Hạ thiên giai tiết, mạnh nguyệt lương thần; hòe ấm doanh đình, hà hương mãn chiểu; trang nghiêm hải hội, đàn khai tam trú chi liên tiêu; thụy ải vân yên, hương mãn thập phương chi thế giới; phúng tụng … (như tiền).
Phục nguyện: Năng Nhân phổ tế, Đại Giác thùy từ; tỷ kim linh tốc chứng Bồ Đề An Lạc Quốc, vị đăng cực quả; phò bảo tộ vĩnh an bàn thạch diệu nghiêm bang, khánh diễn hồng cơ; vưu nguyện thần dân, quân triêm thắng phước. Thật lại chư Phật phò trì chi đại lực dã. Cẩn sớ.
Dịch nghĩa:
SỚ KHAI KINH CÚNG ĐỨC VƯƠNG ĐỨC PHI
Cúi nghĩ:
Tịnh Bình nước pháp, một giọt thấm mà tỏa sáng trời trăng; lá ngọc tánh không, nửa chấm tưới làm sơn hà tươi đẹp; nương theo cổ lễ, đàn mở nghi chay.
Sớ tâu: Việc Hoàng Đế kế vị Nguyễn Phúc … nước Đại Nam, pháp danh Trừng Ý, tự Như Huệ; lập đàn tại Từ Đường Thuần Nghị Kiên Thái Vương, thờ Phật, ăn chay tụng kinh cầu phước báo ơn. Hôm nay đốt hương Chiên Đàn, đèn thắp lửa đuốc; ngưỡng mong Đại Giác chí tôn, chứng giám tấc thành khẩn thiết.
Cúi xin: Hai vị Vương Phi huy hiệu trời cao hợp đức, đất dày vạn năng; làm đẹp thêm cho hậu phi, mở điềm lành thêm phát đạt; giúp đỡ nhà trời dốc chí, mới trông lọng báu hòa hài; xe tiên trở về chốn cõi tiên, lịch ngọc mấy mươi năm tuế nguyệt; những muốn đáp đền đức cả, nên nương đạt thấu hồng ân. Nay lúc trời Hạ tiết đẹp, đầu tháng giờ lành; khắp hồ sen ngát, trang nghiêm pháp hội, đàn mở xuyên suốt ba ngày đêm; mây lành nghi ngút, hương ngát mười phương bao thế giới; trì tụng …(như trước)
Cúi mong: Đấng Năng Nhân độ khắp, đức Giác Ngộ ban từ; giúp kim linh mau chứng Bồ Đề An Lạc Quốc, chứng quả vị lớn; phò ngôi báu mãi an bàn thạch nước trang nghiêm, vui khắp cơ đồ; lại nguyện thần dân, đều nhuần lộc phước. Ngưỡng lạy chư Phật phò giúp năng lực lớn. Kính dâng sớ.
Chú thích:
- Tịnh Bình (淨瓶): bình bằng gốm sứ hay kim thuộc, đựng nước sạch để uống hoặc rửa, còn gọi là Thủy Bình (水瓶), Tháo Bình (澡瓶), Phạn ngữ là kuṇḍikā, âm dịch là Quân Trì (君持、君遲、軍遲), là vật dụng thường mang bên mình của vị Tỷ Kheo. Trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (勅修百丈清規, Taishō Vol. 48, No. 2025) quyển 5 có giải thích rằng: “Tịnh Bình, Phạm ngữ Quân Trì, thử vân bình, thường trữ thủy tùy thân, dụng dĩ tịnh thủ (淨瓶、梵語軍遲、此云瓶、常貯水隨身、用以淨手, Tịnh Bình, tiếng Phạn là Quân Trì, Tàu gọi là bình, thường đựng nước mang theo bên mình, dùng để rửa sạch tay).” Đặc biệt Tịnh Bình nầy cũng là vật mang bên mình của Phạm Thiên, Bồ Tát Quán Thế Âm Ngàn Tay, v.v. Hình tượng đức Bồ Tát Quán Thế Âm cầm Tịnh Bình và nhành Dương Liễu rất phổ biến ở Việt Nam và các nước Phật Giáo Đại Thừa thuộc Châu Á. Trong Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Bi Tâm Đà La Ni (千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼) có đề cập đến Tịnh Bình như là một trong 40 vật cầm trên tay của đức Quan Âm Ngàn Tay. Ngoài ra, trong chư tôn của Thai Tạng Giới Khinh Trà La (胎藏界輕茶羅), Di Lặc Bồ Tát (彌勒菩薩) của Bát Diệp Viện (八葉院) ở giữa, Bất Không Quyên Sách Bồ Tát (不空羂索菩薩) cũng như Tỳ Câu Chi Bồ Tát (毘倶胝菩薩) của Quan Âm Viện (觀音院), Thập Nhất Diện Quán Tự Tại Bồ Tát (十一面觀自在菩薩) của Tô Tất Địa Viện (蘇悉地院), và Hỏa Thiên (火天) của Kim Cang Bộ (金剛部), v.v., đều cầm Quân Trì. Trong bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh của thi hào Nguyễn Du (阮攸, 1765-1820) có đoạn rằng: “Tiết đầu thu lập đàn giải thoát, nước Tịnh Bình rưới hạt dương chi, muôn nhờ Đức Phật từ bi, giải oan cứu khổ độ về Tây Phương.” Hay như trong Chánh Nguyên Lược Tập (正源略集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1587) quyển 15 có câu: “Hồ hải Thiền lưu, thập phương cọng tập, Quan Âm y cựu Tịnh Bình, Thế Chí biệt khai sanh diện (湖海禪流、十方共集、觀音依舊淨瓶、勢至別開生面, hồ biển dòng Thiền, mười phương cùng gặp, Quan Âm như cũ Tịnh Bình, Thế Chí riêng bày mặt thật).”
- Pháp thủy (法水): nước pháp. (1) Chỉ cho Phật pháp, vì Phật pháp có thể làm cho tiêu trừ phiền não, giống như nước có thể rửa sạch những cấu bẩn; nên có tên gọi như vậy. Như trong Vô Lượng Nghĩa Kinh (無量義經, Taishō Vol. 9, No. 276), Phẩm Thuyết Pháp (說法品) thứ 2 có giải thích rằng: “Pháp thí như thủy, năng tẩy cấu uế; nhược tỉnh, nhược trì, nhược giang, nhược hà, khê, cừ, đại hải, giai tất năng tẩy chư hữu cấu uế; kỳ pháp thủy giả, diệc phục như thị, năng tẩy chúng sanh chư phiền não cấu (法譬如水、能洗垢穢、若井、若池、若江、若河、溪、渠、大海、皆悉能洗諸有垢穢、其法水者、亦復如是、能洗眾生諸煩惱垢, pháp ví như nước, có thể rửa sạch dơ bẩn; như giếng, như hồ, như sông nhỏ, như sông lớn, khe, kênh, biển lớn, đều có thể rửa sạch các dơ bẩn; nước pháp nầy cũng giống như vậy, có thể rửa sạch các dơ bẩn phiền não của chúng sanh).” Hay trong bài thơ Ngọc Thạch Kệ (玉石偈) của Tô Thức (蘇軾, 1036-1101) nhà Tống có đoạn: “Nguyện dĩ pháp thủy tẩm Ma Ni, đương quán thử thạch như ngõa lịch (願以法水浸摩尼、當觀此石如瓦礫, nguyện lấy nước pháp ngâm Ma Ni, mới biết đá nầy như ngói sỏi).” (2) Là loại nước có thể trừ bệnh, xua đuổi tà ma của các Đạo sĩ, thầy pháp. Như trong hồi thứ 6 của Tây Du Bổ (西遊補), tiểu thuyết thần ma tiếp theo Tây Du Ký, của Đổng Thuyết (董說, 1620-1686) nhà Minh có đoạn: “Bị Đạo sĩ nhất khẩu pháp thủy, chỉ kiến địa lập cước bất định, kính vãng Tây Nam khứ liễu (被道士一口法水、只見他立腳不定、逕往西南去了, Bị Đạo sĩ phun một bụm nước pháp, chỉ thấy chân không đứng vững trên đất, theo lối tắt đi về phía Tây Nam).” Trong bài Tịnh Tam Nghiệp Văn (淨三業文) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 2 có câu: “Thân tâm cấu tịnh bằng pháp thủy dĩ địch trừ, phẫn hận nghiệp tiêu trượng từ phong nhi đãng khứ (身心垢淨憑法水以滌除、忿恨業消仗慈風而蕩去, thân tâm nhớp sạch nhờ nước pháp để tẩy trừ, phẫn hận nghiệp tiêu nương gió từ mà quét sạch).” Hay trong Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 1 có đoạn: “Cố năng tinh luyện Ngũ Minh, diệu thông chư bộ, ý dục vận Tây Vức chi pháp thủy, nhuận Đông Hạ chi khát ngưỡng, phán thân hứa vu hiểm nạn, vụ tồn hoằng đạo chi tâm (故能精練五明、妙通諸部、意欲運西域之法水、潤東夏之渴仰、判身許于險難、務存弘道之心, nên có thể tinh luyện Năm Minh, thông suốt các bộ, ý muốn vận dòng nước pháp của Tây Vức [Ấn Độ], thấm nhuần sự khát mong của Đông Hạ [Trung Quốc], phân thân nơi chốn hiểm nạn, chuyên giữ hoằng đạo thâm tâm).”
- Ngưu Đầu (牛頭): tức là Ngưu Đầu Chiên Đàn (牛頭栴檀), còn gọi là Xích Chiên Đàn (赤栴檀, Chiên Đàn Đỏ). Chiên Đàn là tên của một loại gỗ thơm, vốn phát xuất từ Ngưu Đầu Sơn (牛頭山); nên có tên gọi là Ngưu Đầu Chiên Đàn. Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập (翻譯名義集, Taishō Vol. 54, No. 2131) quyển 3 cho biết rằng: “Chánh Pháp Niệm Kinh vân: ‘Thử châu hữu sơn, danh viết Cao Sơn; Cao Sơn chi phong, đa hữu Ngưu Đầu Chiên Đàn; nhược chư thiên dữ Tu La chiến thời, vi đao sở thương, dĩ Ngưu Đầu Chiên Đàn, đồ chi tức dũ; dĩ thử sơn phong trạng như ngưu đầu, ư thử phong trung, sanh Chiên Đàn thọ, cố danh Ngưu Đầu.’ Đại Luận vân: ‘Trừ Ma Lê Sơn, vô xuất Chiên Đàn, Bạch Đàn trị nhiệt bệnh, Xích Đàn khử phong thũng’ (正法念經云、此洲有山、名曰高山、高山之峰、多有牛頭旃檀、若諸天與修羅戰時、爲刀所傷、以牛頭旃檀、塗之卽愈、以此山峰狀如牛頭、於此峰中、生旃檀樹、故名牛頭、大論云、除摩梨山、無出旃檀、白檀治熱病、赤檀去風腫, Chánh Pháp Niệm Kinh dạy rằng: ‘Châu nầy có núi, tên là Cao Sơn, trên đỉnh Cao Sơn, có nhiều Ngưu Đầu Chiên Đàn; nếu khi các trời cùng giao chiến với Tu La, bị đao làm thương tích, thì lấy Ngưu Đầu Chiên Đàn thoa vào tức lành liền; vì hình trạng đỉnh núi nầy giống như đầu con trâu, trong đỉnh núi lại có cây Chiên Đàn, nên có tên là Ngưu Đầu.’ Đại Luận còn dạy rằng: ‘Trừ Ma Lê Sơn không có Chiên Đàn, loại Bạch Đàn trị bệnh nóng sốt, loại Xích Đàn thì khử phong thũng’).” Đây là loại gỗ đặc biệt có công năng trị bệnh, và bảo vệ thân thể không bị đốt cháy nếu thoa vào mình. Như Bắc Sơn Lục (北山錄, Taishō Vol. 52, No. 2113) quyển 3 giải thích rằng: “Ma La Da Sơn hữu Chiên Đàn danh Ngưu Đầu Hương, nhược dĩ đồ thân, thiết nhập hỏa khanh hỏa bất năng thiêu (摩羅耶山有栴檀名牛頭香、若以塗身、設入火坑火不能燒, núi Ma La Da có loại Chiên Đàn tên Ngưu Đầu Hương, nếu lấy thoa vào mình, giả sử có vào trong hầm lửa, lửa không thể đốt cháy được).” Hay trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 9, No. 278) quyển 50 cũng có cùng thông tin như trên: “Phục hữu hương danh Ngưu Đầu Chiên Đàn, tùng Ly Cấu Sơn vương sanh, nhược dĩ đồ thân, hỏa bất năng thiêu (復有香名牛頭栴檀、從離垢山王生、若以塗身、火不能燒, lại có loại hương tên là Ngưu Đầu Chiên Đàn, từ vua Ly Cấu Sơn sanh ra, nếu lấy thoa vào mình, lửa không thể đốt cháy được).” Hoặc như trong Tuyển Tập Bách Duyên Kinh (撰集百緣經, Taishō Vol. 4, No. 200) quyển 3 có đoạn: “Kỳ nhân thân thể, sanh chư ác sang, thậm hoạn khổ não, thống bất khả ngôn, hoán chư lương y, dĩ chiêm liệu trị, vân tu Ngưu Đầu Chiên Đàn, dụng đồ sang thượng, khả đắc trừ dũ (其人身體、生諸惡瘡、甚患苦惱、痛不可言、喚諸良醫、以瞻療治、云須牛頭栴檀、用塗瘡上、可得除愈, người ấy thân thể, mọc các mụn nhọt dữ, lo âu khổ não, đau không tả xiết, bảo các lương y, xem xét trị liệu; họ bảo rằng nên lấy Ngưu Đầu Chiên Đàn đem thoa trên mụn nhọt ấy, có thể hết đau).” Trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 10 có ghi lại rằng: “Quốc Nam tân hải hữu Mạt Lạt Da Sơn, sùng nhai tuấn lãnh, động cốc thâm giản, kỳ trung tắc hữu Bạch Đàn Hương thọ, Chiên Đàn Nễ Ba thọ, thọ loại Bạch Đàn, bất khả dĩ biệt, duy ư thạnh Hạ, đăng cao viễn chiêm, kỳ hữu đại xà oanh giả, ư thị tri chi, do kỳ mộc tánh lương lãnh, cố xà bàn dã; ký vọng kiến dĩ, xạ tiễn vi ký, Đông Trập chi hậu, phương nãi thái phạt (國南濱海有秣剌耶山、崇崖峻嶺、洞谷深澗、其中則有白檀香樹、栴檀你婆樹、樹類白檀、不可以別、唯於盛夏、登高遠瞻、其有大蛇縈者、於是知之、猶其木性涼冷、故蛇盤也、旣望見已、射箭爲記、冬蟄之後、方乃採伐, ven bờ biển phía Nam của nước ta có núi Mạt Lạt Da, vách núi dựng đứng, đỉnh núi cao vút, hang động sâu thẳm, trong đó ắt có cây Bạch Đàn Hương, cây Chiên Đàn Nễ Ba, cây thuộc loại Bạch Đàn, không thể phân biệt được; chỉ vào giữa mùa Hạ, lên trên cao nhìn từ xa, cây nào có rắn cuốn chung quanh, mới biết được rằng, do vì tánh cây ấy mát lạnh, nên rắn cuốn quanh; sau khi nhìn xong, bắn mũi tên để ghi dấu; sau mùa Đông Trập [ngủ đông], mới có thể hái chặt về).”
- Hạc diễm, hạc diệm (鶴燄, 鶴焰): lửa đuốc, lửa nến. Vì bệ cây nến đứng thẳng trang nghiêm như con hạc, nên có tên như vậy. Như trong bài Vịnh Trì Trung Chúc Ảnh (詠池中燭影) của Lương Nguyên Đế (梁元帝, tại vị 552-554) thời Nam Triều có câu: “Ngư đăng thả diệt tẫn, hạc diễm tạm đình huy (魚燈且滅燼、鶴焰暫停輝, đèn chài còn tắt ngúm, lửa nến tạm dừng cháy).” Hay trong bài thơ Phụng Hòa Ngự Chế Thượng Nguyên Quán Đăng (奉和御製上元觀燈) của Hạ Tủng (夏竦, 985-1051) nhà Tống lại có câu: “Bảo phường nguyệt kiểu long đăng đạm, tử quán phong vi hạc diễm bình (寶坊月皎龍燈淡、紫館風微鶴燄平, chùa chiền trăng tỏ đèn heo hắt, lữ quán gió hiu đèn đứng yên).” Trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 3 có đoạn: “Hạc diễm huỳnh hoàng chiếu mê mông, Ngọc Đế tô du vạn hộc trung (鶴燄熒煌照迷曚、玉帝酥油萬斛中, lửa nến lập lòe chiếu sáng mơ, dầu bơ Ngọc Đế muôn hộc trong).” Hay tại Đại Chính Điện (大政殿) của Cố Cung bên Trung Quốc, vua Càn Long (乾隆, tại vị 1745-1796) nhà Thanh có đề hai câu: “Long tiên thúy niệu kim tiên vũ, hạc diễm hồng phiên bảo tướng hoa (龍涎翠嬝金仙宇、鶴焰紅翻寶相花, cỏ thơm yểu điệu tiên trời điện, lửa nến chuyển hồng tướng báu hoa).” Trong Đạo Môn Khoa Phạm Đại Toàn Tập (道門科範大全集) tập I của Đạo Giáo, phần Sanh Nhật Bổn Mạng Nghi (生日本命儀) có câu: “Đăng phân hạc diễm chi huy, hương tán long yên chi tuệ (燈分鶴焰之輝、香散龍煙之穗, đèn chia lửa nến rực soi, hương tỏa khói rồng ánh đuốc).”
- Đại Giác (大覺): sự giác ngộ lớn, chỉ sự giác ngộ của đức Thế Tôn (世尊). Đây là tên gọi khác của chư Phật. Người phàm phu thì không có sự giác ngộ, tỉnh thức; còn các vị Thanh Văn (聲聞), Duyên Giác (緣覺), Bồ Tát (菩薩) thì có giác ngộ, nhưng không lớn bằng Phật; chỉ có chư Phật mới giác ngộ triệt để chân lý của vũ trụ, nên được xưng tán là Đấng Đại Giác. Như trong Đại Bát Niết Bàn Kinh Hậu Phần (大般涅槃經後分, Taishō Vol. 12, No. 377) quyển Thượng có câu: “Nhĩ thời, tứ chúng nhất thiết chiêm ngưỡng Đại Giác Thế Tôn chơn kim sắc thân, mục bất tạm xả, tất giai khoái lạc (爾時、四眾一切瞻仰大覺世尊眞金色身、目不暫捨、悉皆快樂, lúc bấy giờ, bốn chúng tất cả đều chiêm ngưỡng thân sắc vàng của đấng Thế Tôn Đại Giác, mắt không hề rời, thảy đều vui mừng).” Hay như trong Triệu Luận Lược Chú (肇論略註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 54, No. 873) lại có câu: “Vị Như Lai tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, tam giác dĩ viên, cố xưng Đại Giác; nhiên thử Đại Giác, nãi Báo Thân chi xưng (謂如來自覺、覺他、覺行圓滿、三覺已圓、故稱大覺、然此大覺、乃報身之稱, sự tự giác ngộ, giác ngộ cho người khác và thực hành sự giác ngộ tròn đầy của đức Như Lai, ba sự giác ngộ ấy đã viên mãn; nên gọi là sự giác ngộ lớn; do vậy sự giác ngộ lớn nầy là tên gọi của Báo Thân).” Trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 3, phần Tiểu Tường (小祥), có câu: “Phụ khí trần hoàn ký thích Tiểu Tường chi nhật, Phật lâm trọc quốc thị danh Đại Giác chi tôn, dụng quy Phật từ, nãi thù phụ đức (父棄塵寰既適小祥之日、佛臨濁國是名大覺之尊、用歸佛慈、乃酬父德, cha bỏ cõi trần nay gặp giáp năm ngày cúng, Phật đến nước loạn đúng tên Đại Giác tôn xưng; quay về lòng từ của Phật, đáp đền đức lớn của cha).” Trong Cao Thượng Ngọc Hoàng Mãn Nguyện Bảo Sám (高上玉皇滿願寶懺) quyển 4 của Chánh Thống Đạo Tạng (正統道藏) thuộc Đạo Giáo cũng có đoạn: “Thập Hiệu viên mãn, vạn đức châu thân, vi thiên chủ chi chí tôn, chứng Như Lai chi đại giác (十號圓滿、萬德周身、爲天主之至尊、證如來之大覺, mười hiệu tròn đầy, muôn đức khắp thân, là đấng chí tôn của cõi trời, chứng giác ngộ lớn của Như Lai).”
- Càn nguyên (乾元): có mấy nghĩa. (1) Hình dung đức lớn của Thiên tử. Như trong Dịch Kinh (易經), quẻ thứ nhất Càn Vi Thiên (乾爲天) có lời Thoán (彖) rằng: “Đại tai Càn Nguyên, vạn vật tư thỉ, nãi thống thiên (大哉乾元、萬物資始、乃統天, lớn thay Càn Nguyên, muôn vật nhờ nó mà bắt đầu nảy nở, nên cai quản cả trời).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: “Càn thị quái danh, Nguyên thị Càn đức chi thủ(乾是卦名、元是乾德之首, Càn là tên quẻ, Nguyên là đứng đầu trong các đức của Càn).” Chu Hy (朱熹, 1130-1200) nhà Nam Tống cho biết thêm rằng: “Càn Nguyên, thiên đức chi đại thỉ (乾元、天德之大始, Càn Nguyên là khởi đầu cho đức lớn của trời).” Từ đó trở về sau, Càn Nguyên được dùng để hình dung cho đức độ to lớn của Thiên tử. (2) Chỉ cho Trời. Như trong Trần Thư (陳書), chương Cao Tổ Kỷ Thượng (高祖紀上) có câu: “Đại tai Càn Nguyên, tư nhật nguyệt dĩ trinh quán; chí tai khôn nguyên, bằng sơn xuyên dĩ tải vật (大哉乾元、資日月以貞觀、至哉坤元、憑山川以載物, lớn thay Càn Nguyên, lấy trinh quán [đạo lý chánh đại] để giúp đỡ trời trăng; lấy việc nâng đỡ muôn vật để nương tựa núi sông).” Hay trong bài Thái Giai Lục Phù Phú (泰階六符賦) của thi nhân Tiền Khởi (錢起, 710-782) nhà Đường cũng có câu: “Ký xuất một dĩ hậu quân đức, hựu huỳnh hoàng dĩ lệ Càn Nguyên (旣出沒以候君德、又熒煌以麗乾元, từng ẩn hiện để trông đợi đức của vua, lại tỏa sáng để làm đẹp Càn Nguyên [Trời]).” (3) Chỉ cho đế vương. Như trong Tấn Thư (晉書), phần Hiếu Võ Định Hoàng Hậu (孝武定皇后) của Hậu Kỷ Truyện Hạ (后妃傳下) có câu: “Đức phối Càn Nguyên, cung thừa tông miếu, huy âm lục cung, mẫu nghi thiên hạ (德配乾元、恭承宗廟、徽音六宮、母儀天下, đức hợp đế vương, nối dõi tông miếu, tiếng tốt sáu cung, mẫu nghi thiên hạ).” Hay trong bài thơ Môn Nhân Trần Thiên Thu Đẳng Sơ Lai Thảo Đường Vấn Học Thị Chư Tử (門人陳千秋等初來草堂問學示諸子) của Khang Hữu Vi (康有爲, 1858-1927) cũng có câu: “Quần long vô thủ thùy tri cát, tự hữu càn nguyên đại thống trường (群龍無首誰知吉、自有乾元大統長, nhóm rồng chẳng đầu ai biết tốt, tự có đế vương thống lãnh lâu).” (4) Chỉ cho nguyên khí, đại khí, hơi thở. Như trong bài thơ Cô Trúc Quân Chi Nhị Tử (孤竹君之二子) của Quách Mạt Nhược (郭沫若, 1892-1978) có câu: “Ngã phủ ngưỡng tại thiên địa chi gian hô hấp càn nguyên, tạo hóa đích tinh thần tại ngã hung trung phún dũng (我俯仰在天地之間呼吸乾元、造化的精神在我胸中噴湧, ta cúi xuống ngẩng lên giữa trời đất hô hấp nguyên khí, tinh thần của tạo hóa ở trong lồng ngực ta tuôn trào ra).”
- Khôn hậu (坤厚): chỉ cho đại địa sâu dày, hay chỉ riêng cho đại địa, đất, đối với trời. Như trong bài Đại Tống Mẫn Cầu Tri Giáng Châu Tạ Đáo Nhiệm Biểu (代宋敏求知絳州謝到任表) của Tằng Củng (曾鞏, 1019-1083) nhà Tống có câu: “Cái phục ngộ Hoàng Đế Bệ Hạ càn cang độc đoán, khôn hậu kiêm dung (蓋伏遇皇帝陛下乾剛獨斷、坤厚兼容, cúi mong gặp Hoàng Đế Bệ Hạ trời cao độc nhất, đất dày khoan dung).” Hay trong Pháp Hoa Kinh Thọ Thủ (法華經授手, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 32, No. 623) quyển 10 có đoạn: “Kim Bồ Tát dĩ viên thông diệu thể ký năng minh chiếu, hựu năng thừa thọ hữu khôn đạo yên, khôn hậu tải vật, cố linh cầu giả tiện sanh hàm hoằng quang đại đoan chánh hữu tướng chi nữ dã (今菩薩以圓通妙體旣能明照、又能承受有坤道焉、坤厚載物、故令求者便生含弘光大端正有相之女也, nay Bồ Tát lấy thể mầu viên thông mới có thể chiếu sáng, lại có thể vâng chịu đạo của đất vậy; đất dày chứa vật, cho nên người cầu nguyện bèn sanh nữ nhân có tướng đoan trang, ánh sáng rực rỡ).”
- Mỹ hóa (美化): làm đẹp, làm cho đẹp bằng cách trang sức, điểm xuyết để tăng thêm vẻ mỹ quan. Như trong Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (佛祖歷代通載, Taishō Vol. 49, No. 2036) quyển 22 có câu: “Văn Vương tự Công Lưu dĩ lai, thế tích nhân hiếu, mỹ hóa hành hồ giang hán, nhân từ cập ư hành vi, hà đãi Xích Tinh chi giáo tai (文王自公劉以來、世積仁孝、美化行乎江漢、仁慈及於行葦、何待赤精之敎哉, vua Văn Vương [1152-1056 ttl.] nhà Chu, từ thời Công Lưu đến nay, tích chứa nhân hiếu giữa đời, làm đẹp cùng khắp sông nước, nhân từ đến tận cỏ cây, đâu phải đợi lời dạy của tiên nhân Xích Tinh Tử chăng ?).”
- Quan thư (關雎): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Là tên của một thiên trong Thi Kinh (詩經), chương Chu Nam (周南); là chương đầu tiên của toàn thư tịch, cũng là thiên đầu tiên trong 15 thiên ca dao Quốc Phong (國風), là tác phẩm biểu hiện tình yêu nam nữ, được xem như là tổ của những bài thơ tình của Trung Quốc. (2) Từ đó, từ nầy được mượn để chỉ cho sự hiền thục của hậu phi, hay đức độ của nàng hậu phi. Như trong Hậu Hán Thư (後漢書), chương Hoàng Hậu Kỷ Thượng (皇后紀上), phần Quang Liệt Âm Hoàng Hậu (光烈陰皇后) có câu: “Ký vô quan thư chi đức, nhi hữu Lữ Hoắc chi phong (旣無關雎之德、而有呂霍之風, đã không có đức độ của hậu phi, lại thêm thói quen [tật đố hung tàn] của Lữ Hoắc).” (3) Mượn dùng để chỉ cho vợ chồng. Như trong tác phẩm Bão Trang Hạp (抱妝盒) của tác giả vô danh, chương thứ 4 có câu: “Đa tắc thị thiên sanh phần phước, hựu ngộ trước nhân duyên đối phó, thành tựu liễu lân chỉ quan thư (多則是天生分福、又遇著姻緣對付、成就了麟趾關雎, phần lớn ắt là trời sanh phước phần, lại gặp duyên kết hôn giao phó, thành tựu vợ chồng cao đẹp).” (4) Mượn chỉ cho thục nữ, người con gái hiền thục. Như trong hồi thứ 19 của tác phẩm Ngọc Kiều Lê (玉嬌梨) của Trương Quân (張勻, ?-?) nhà Thanh, có đoạn: “Cửu văn lão tiên sinh lịnh ái hiền thục, hữu quan thư chi mỹ, cố thác vãn sinh kính chấp phủ kha, dục cầu lão tiên sinh khúc tứ chu trần chi hảo (久聞老先生令愛賢淑、有關雎之美、故託晚生敬執斧柯、欲求老先生曲賜朱陳之好, từ lâu đã nghe lịnh ái của ông rất hiền thục, có vẻ đẹp của thục nữ, cho nên xin hãy giao cho hậu sinh được làm mai mối, muốn xin ông thương xót ban cho hai họ tốt lành).” (5) Là tên của một loài chim sống dưới nước, chim ưng bắt cá. Trong Hy Tẩu Thiệu Đàm Thiền Sư Quảng Lục (希叟紹曇禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1390) quyển 3 có câu: “Cù mộc thùy âm, quan thư vịnh đức, huyên thọ bắc đường, tinh chiêu nam cực, xuân dương hu ẩu dục lê nguyên, đại địa thùy nhân bất cảm ân (樛木垂陰、關雎詠德、萱樹北堂、星昭南極、春陽姁嘔育黎元、大地誰人不感恩, cây si rủ bóng râm, chồng vợ ngợi ca đức, cây huyên nơi nhà bắc, sao tỏ sáng cực Nam, mùa Xuân đem vui nuôi bá tánh, đất trời ai nào chẳng cảm ơn).”
- Phụng bảo (鳳葆): lọng che trên xe ngựa thời xưa, được trang hoàng bằng lông chim.
Ngọc lịch (玉曆、玉歷): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho ngày đầu tiên của năm Âm Lịch, tức mồng 1 Tết. Như trong bài Kiến Bình Vương Khánh Cải Hiệu Khải (建平王慶改號啟) của Lương Giang Yêm (梁江淹, ?-?) thời Nam Triều có đoạn: “Thiết dĩ hoàng cù vĩnh mật, tắc ngọc lịch duy trinh (竊以皇衢永謐、則玉歷惟禎, nép nghĩ đường vua mãi yên, tất đầu năm tốt đẹp).” (2) Lịch thư do nhà vua ban cho vào mỗi đầu năm. Như trong bài thơ Quận Trung Xuân Yến Nhân Tặng Chư Khách (郡中春宴因贈諸客) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có câu: “Thị thời tuế nhị nguyệt, ngọc lịch bố Xuân Phân (是時歲二月、玉歷布春分, lúc bấy giờ nhằm tháng hai, lịch ngọc ban bố dịp Xuân Phân).” Hay trong bài thơ Nhâm Tý Thu Quá Cố Cung (壬子秋過故宮) của Tống Nột (宋訥, 1311-1390) nhà Minh cũng có câu: “Triêu hội bảo đăng trầm chuyển lậu, thọ thời ngọc lịch bãi ban xuân (朝會寶燈沉轉漏、授時玉歷罷班春, sáng gặp đèn báu thầm khắc đếm, truyền cho lịch ngọc thôi ban [bố] xuân).” (3) Loại dầu cao quý giá, tức là thuốc tiên trong truyền thuyết. Như trong bài thơ Mông Tứ Tửu (蒙賜酒) của Dữu Tín (庾信, 513-581) nhà Bắc Chu có câu: “Kim cao hạ đế đài, ngọc lịch tại bồng lai (金膏下帝臺、玉歷在蓬萊, thuốc vàng dưới bệ vua, cao ngọc chốn bồng lai).” Trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 23, phần Niêm Công Thiếp Pháp Ngữ (拈公帖法語), có câu: “Kim luân thống ngự tam thiên giới, ngọc lịch diên hồng ức vạn xuân (金輪統御三千界、玉曆延洪億萬春, xe vàng thống lãnh ba ngàn cõi, lịch ngọc kéo dài ức vạn xuân).” Hay trong Chương Sở Tri Luận (彰所知論, Taishō Vol. 32, No. 1645) quyển Hạ cũng có đoạn: “Huống Chánh Biến Tri chi diệu dụng, kỳ thục năng ngộ ư thử; thạnh hỉ Ưu Đàm thụy thế, thiên khai ngọc lịch chi kỳ; Tượng Giáo trung hưng, thời tế kim luân chi trị (況正遍知之妙用、其孰能語於此、盛矣優曇瑞世、天開玉曆之期、像敎中興、時際金輪之治, huống chi sự diệu dụng của Chánh Biến Tri, liệu ai có thể ngộ được điều nầy; hưng thịnh thay hoa Ưu Đàm hiện thế, trời mở lịch ngọc thời kỳ; Tượng Giáo chấn hưng, gặp lúc xe vàng cai trị).”